Product Manager Technical Interview (P1)

Quy trình tuyển dụng ví trí Product Manager sẽ được chia làm nhiều giai đoạn. Ở các công ty tôi làm việc, quy trình tuyển vị trí này chia làm 6 vòng chính:

  • Vòng 1: Chuẩn bị Resumé và nộp hồ sơ
  • Vòng 2: Phone Screen
  • Vòng 3: Case Study
  • Vòng 4: Technical Interview
  • Vòng 5: General Interview
  • Vòng 6: Get An Offer

Trong bài này, tôi xin nói đến vòng Technical Interview. Đây là vòng cần nhiều thời gian để chuẩn bị và mang tính quyết định, các câu hỏi đi sâu vào chuyên môn công việc của Product Manager.

Các câu hỏi trong vòng Technical Interview sẽ phân bổ theo các nhóm sau:

  • Company Question
  • Personal Question
  • Estimation Question
  • Strategy Question
  • Execution Question
  • Product Question
  • Technical Question
  • Behavioral Question

Company Question

Hiểu rõ một công ty trước khi nộp hồ sơ là rất quan trọng. Không chỉ tốt trong quá trình phỏng vấn giúp gây ấn tượng với nhà tuyển dụng.

Để chuẩn bị cho các cầu hỏi này, có thể tìm hiểu công ty theo guideline sau:

  • Product
    • Products: Các sản phẩm nào công ty đã, đang và sẽ phát triển. Các tính năng, giá trị mà sản phẩm này mang lại.
    • Market: Thị trường mục tiêu mà công ty/các sản phẩm công ty đang hướng tới.
    • Customers: Chân dung các khách hàng mà các sản phẩm công ty đang hướng tới. (B2B or B2C, Demographics, Behavioral, Needs)
    • Competitors: Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Sản phẩm công ty có điểm gì khác biệt so với các đối thủ.
    • Business Model: Cách mà công ty đang kiếm tiền.
    • Customer Feedbacks: Phản hồi tích cực, tiêu cực của khách hàng (Reviews, Feedbacks).
    • Product Metrics: Chỉ số nào dùng để đo lường mức độ thành công của sản phẩm (Vd: Revenue, Retention, ROAS).
  • Strategy
    • Vision: Tầm nhìn dài hạn của công ty và ban giám đốc
    • Mission: Sứ mệnh mà công ty hướng đến
    • Strength: Điểm mạnh của sản phẩm/công ty
    • Weakness: Điểm yếu của sản phẩm/công ty
    • Opportunities: Các cơ hội tiềm năng dựa trên thế mạnh, thị trường mà công ty đang hướng đến
    • Threats: Với sản phẩm, thị trường đang có các mối đe dọa nào ảnh hưởng sự thành công của công ty trong tương lai (Lĩnh vực, Đối thủ, Luật, Người dùng)
  • Culture
    • Culture: Văn hóa công ty
    • Core Value: Các giá trị cốt lõi công ty muốn xây dựng
    • Company History: Lịch sử hình thành công ty
    • Company Structure: Cấu trúc tổ chức
    • Founding team/Key members: Các thành viên sáng lập và điều hành tổ chức
    • Line Manager & Team: Người quản lý trực tiếp và đặc điểm đội nhóm trong tương lai sẽ cùng làm việc.

Personal Question

Đây là phần giúp nhà tuyển dụng hiểu rõ về ứng viên và cách họnghĩ. Một số câu hỏi sau có thể được hỏi:

  • Tell Me About Yourself
    • Đây là câu hỏi mở, khi bắt đầu phỏng vấn tôi cũng thường sẽ hỏi ứng viên. Ứng viên cần mô tả một cách ngắn gọn và nổi bật những ý chính về bản thân trong vòng 2-3 phút. Không nên nói quá chung chung nhưng cũng đừng đi vào quá chi tiết, nếu nhà tuyển dụng thấy điểm nào thú vị họ sẽ hỏi thêm.
    • Công việc và sản phẩm hiện tại hoặc gần nhất đang đảm nhận và các công việc trước đó
    • Thành tựu nổi bật đã đạt được ở các công việc trước.
    • Cơ duyên nào đưa bạn đến công việc này. Tạo sao bạn lại muốn trở thành Product Manager?
    • Các sở thích ngoài công việc hỗ trợ cho công việc của một người Product Manager (Ví dụ: Viết blog; Đọc sách về phát triển sản phẩm; Làm advisor/mentor cho các dự án; Tham gia các Workshop chuyên đề).
  • Why do you want to work here?
    • Từ bước nghiên cứu về công ty và các sản phẩm ở trên. Hãy cho nhà tuyển dụng thấy điểm đặc biệt ở công ty khiến bạn mong muốn ứng tuyển vào.
  • Why should we hire you?
    • Chúng ta là người hiểu rõ bản thân nhất, cho nên trước khi nhà tuyển dụng nhận ra những tốt chất, tiềm năng và điểm mạnh của bạn. Hãy cho họ thấy điểm sáng nơi bạn mà không phải ai cũng có. Những giá trị gì bạn sẽ mang lại cho công ty về văn hóa, kinh nghiệm, kiến thức.
  • Why are you leaving your current job?
    • Có nhiều lý do để một người rời bỏ công việc và tìm kiếm cơ hội mới. Tựu chung lại hãy tập trung vào những điểm tích cực mà bạn đang tìm kiếm như về cơ hội thăng tiến, sản phẩm mang lại được nhiều giá trị, tìm kiếm một nơi có văn hóa và phúc lợi tốt hơn, chưa phát huy được thế mạnh ở công việc hiện tại. Dù sao đi nữa cũng hạn chế việc nói ra những điều tiêu cực về công ty cũ.
  • What do you like to do in your spare time?
    • Nếu là một người luôn mang trong mình năng lượng tích cực và tinh thần ham học hỏi, hãy cho nhà tuyển dụng thấy. Hãy hạn chế nói ra những hoạt động chung chung như: đi cafe, nói chuyện với bạn bè, shopping, etc. bởi vì không tạo ra sự khác biệt nơi bạn và không giúp nhà tuyển dụng thấy ấn tượng hơn. Hãy tập trung làm nổi bật các hoạt động mang lại sự khác biệt và cụ thể ví dụ như: Dành mỗi ngày 1 tiếng để viết blog về chuyên môn và cuộc sống; Học ngôn ngữ lập trình Python và tự code các ứng dụng nho nhỏ.
  • Where do you see yourself in five years?
    • Tôi vẫn thích hỏi câu này để xem liệu rằng ứng viên có tinh thần học hỏi, cầu tiến và đặt ra những mục tiêu cho bản thân hay không. Ngoài ra, dựa trên đó nhà tuyển dụng cũng sẽ có thể thấy được Career Path hay cơ hội thăng tiên mà công ty có thể mang lại như bạn mong muốn hay không. Có thể xảy ra trường hợp bạn muốn phát triển lên các vị trí cao hơn nhưng có thể trong vòng 1-2 năm tới công ty chưa đáp ứng được vì quy mô công ty.
  • What are your strengths and weaknesses?
    • Theo thói quen, câu hỏi này tôi thường hỏi ứng viên ở cuối buổi phòng vấn. Không có ai là hoàn hảo, cho nên một ứng viên tiềm năng là người có thể thấy được hoặc lắng nghe góp ý của mọi người về điểm mạnh và điểm yếu của mình để tự đó có kể hoạch phát triển cho bản thân. Khi nói về điểm mạnh hãy tự tin nhưng khiêm tốn, đừng nói những ý như “Tôi có product sense tốt/ Tôi rất hiểu người dùng” mà thay vào đó hãy nói “Tôi có phương pháp để luôn luôn đặt người dùng làm trọng tâm trong mọi quyết định và quá trình nghiên cứu tìm giải pháp, tôi giành rất nhiều thời gian lắng nghe phản hồi từ họ, để thực sự hiểu họ”. Với điểm yếu cũng đừng ngần ngại chia sẻ với nhà tuyển dụng, quan trọng hơn hết là cho nhà tuyển dụng thấy bạn thực sự ý thức được những hạn chế của bản thân và có kế hoạch để cải thiện.

Ở bảng dưới là ví dụ một số điểm mạnh của một Product Manager, hãy tìm cách highlight những điểm mạnh của bạn trong quá trình phòng vấn.


Còn tiếp…

Product Manager

Trong bài viết trước, tôi có chia sẻ về công việc của Product Owner. Để tiếp nối, hôm nay tôi xin chia sẻ về công việc của Product Manager.

Product Owner và Product Manager là hai vai trò không dễ để tách bạch rõ ràng công việc. Cả hai đều có nhiệm vụ kết nối, định hướng team phát triển sản phẩm để tạo ra sản phẩm thành công. Và rất nhiều trường hợp ở các công ty hay team có scale bé, hai vai trò này có thể được đảm nhận bởi cùng một người.

Định nghĩa một chút để làm rõ hai vai trò này:

  • Product Owner là người quản lý Product Backlog, tạo ra các User Stories mô tả tính năng của sản phẩm cần phát triển. Là người đảm bảo tận dụng tối đa nguồn lực của team (bao gồm Developer, Designer, Tester) thông qua Estimation & Prioritization để tạo ra sản phẩm hiệu quả nhất giải quyết các nhu cầu của người dùng (end-users hoặc clients).
  • Product Manager là người nghiên cứu tiềm năng thị trường, đối thủ cạnh tranh, khám phá nhu cầu người dùng để từ đó vạch ra lộ trình phát triển và phát hành sản phẩm. Giúp team cùng đạt được mục tiêu chung.

Công việc của Product Manager

  • Nghiên cứu thị trường hoặc kết hợp với các bạn Market Researcher, UX Researcher để tìm hiểu và nghiên cứu thị trường. Bao gồm: Ước tính dung lượng thị trường (Market Size), nghiên cứu đối thủ cạnh tranh (Competitor Analysis), tìm hiểu người dùng (User demographics, User behavior, User needs, User pains).
  • Thông qua dữ liệu nghiên cứu thị trường, cùng với Board of Director/C-Suit đặt ra các Vision, Mission trung và dài hạn cho sản phẩm.
  • Đưa ra các giả thiết về nhu cầu người dùng, giả thiết về giải pháp. Từ đó định nghĩa được Minimum Viable Product (MVP) và Key metrics để kiểm chứng giả thiết.
  • Vạch ra lộ trình phát triển sản phẩm (Product Roadmap/GIST Planning) và mục tiêu theo tháng/quý/năm (OKRs).
  • Giúp team, stakeholders làm việc trên cùng mục tiêu chung và hiểu rõ lộ trình phát triển sản phẩm.
  • Xây dựng nguồn lực từ bên trong và tìm kiếm các nguồn lực từ bên ngoài hỗ trợ tối đa cho quá trình phát triển (Advisor, Business, Sale, Marketing,…)

Những điều cần có để đảm nhận vai trò Product Manager

  • Chịu được áp lực và có phương pháp quản lý áp lực như: áp lực về kết quả từ BoD/C-Suit/Invester; áp lực từ vấn đề về giao tiếp, quy trình, chất lượng công việc trong team; áp lực từ phản hồi của khách hàng; etc.
  • Có kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem Solving) và có thể giải quyết vấn đề với tần suất liên tục
  • Có khả năng giao tiếp tốt: Truyền đạt thông tin rõ ràng, nhanh gọn; giao tiếp được với nhiều nhóm đối tượng khác nhau kể cả End Users, Developer, Stakeholders, etc.
  • Có kiến thức tốt và sâu về lĩnh vực đang tham gia (know-how).
  • Có tư duy định hướng chiến lược và tầm nhìn dài hạn cho sản phẩm.

RICE Scoring Model

Trong Quản Lý Dự Án (Project Management) mô hình Project Managemement Triangle) thường được sử dụng để đánh giá nguồn lực dựa trên ba yếu tố Time, Scope, Cost. Bởi vì thời gian là hữu hạn, chi phí có hạn nên việc xác định Scope là cực kì quan trọng. Và việc này càng quan trọng hơn với các sản phẩm start-up, khi mà nguồn lực không dồi dào và việc đánh giá mức độ ưu tiên một cánh đúng đắn của các mục tiêu và hành động giảm thiểu tỉ lệ thất bại của dự án.

Có nhiều cách để mô hình hoá và đánh giá mức độ ưu tiên của các công việc. Trong bài viết này, tôi muốn giới thiệu một mô hình giúp đánh giá mức độ ưu tiên hiệu quả đó là RICE Scoring Model.

RICE viết tắt của bốn yếu tố Reach (Độ tiếp cận), Impact (Độ ảnh hưởng), Confidence (Độ tự tin) và Effort (Công sức) khi nhìn nhận Ideas/Solutions/Actions mà trong bài viết này tôi gọi chung là Item.

Ý tưởng cơ bản của RICE Model là đánh giá Priority (Độ ưu tiên) của các Item dựa trên bốn yếu tố kể trên, để từ đó có sắp xếp sự ưu tiên hợp lý, tối ưu hoá nguồn lực để đạt đượt kết quả tối đa với nguồn lực có hạn.

RICE SCORE

Với mỗi Item, chúng ta sẽ đánh điểm theo RICE Score.

  • RICE Score = Reach (R) x Impact (I) x Confidence (C) / Effort (E)

Tiến hành sắp xếp các Item theo RICE Score chúng ta sẽ có danh sách các Item để từ đó đánh giá mức độ ưu tiên một cách nhanh và hợp lý hơn.

Reach (Độ tiếp cận)

Số lượng users chịu ảnh hưởng của giải pháp trong một khoảng thời gian nhất định.

Ví dụ:

  • 10k users mới cài app trong 1 tháng.

Có hai cách cơ bản để tính Reach

1. Dựa vào số liệu thực tế đã thu thập được

  • Ví dụ : Trong tháng 1/2022, dữ liệu từ Google Analytics cho thấy có 10k new users. Nếu công ty vẫn duy trì ngân sách UAeCPI không có nhiều biến động, qua tháng 2 dự kiến vẫn sẽ có 10k new users.

2. Tính toán dựa trên số liệu đã có hoặc phỏng đoán

  • Ví dụ: Sản phẩm chưa triển khai nhưng ở lĩnh vực này trung bình eCPI là $1. Công ty dự kiến sẽ bỏ ra $10k/tháng để chạy UA (User Acquisition Campaign). Giả sử CPI = $1 → Sau 1 tháng sẽ thu về 10k installs.

Impact

Impact thể hiện mức độ ảnh hưởng của giải pháp. Với Impact, chúng ta có thể nhìn lại các Key Metrics chính mà sản phẩm đang hướng tới để có phương pháp ước tính cho phù hợp.

Ví dụ:

  • Item 1: “Tăng tỉ lệ users hoàn thành bước Onboarding từ 50% lên 75% bằng cách thêm hướng dẫn sử dụng”.
  • Item 2: “Tăng tỉ lệ users mua gói 1 Year Subscription để sử dụng app từ 5% lên 10% bằng cách bổ sung thanh toán qua VISA”.

Nếu xét trên tiêu chí Revenue (Lợi nhuận) thì rõ ràng Item 1 có Reach cao hơn nhưng Impact lại không bằng Item 2.

Sau khi có phương pháp đánh giá Impact của từng Item, chúng ta có thể dùng thang đo để thể hiện mức độ quan trọng của từng Item:

  • 3 điểm ➢ Massive Impact
  • 2 điểm ➢ High Impact
  • 1 điểm ➢ Medium Impact
  • 0.5 điểm ➢ Massive Impact
  • 0.25 điểm ➢ Minimal Impact

Confidence

Với mỗi Item, đôi khi chúng ta thấy chúng thực sự mang lại Impact lớn nhưng không đủ dữ liệu để chứng minh. Confidence là yếu tố giúp chúng ta

Với Confidence hãy dùng thang đo sau:

  • 100% ➢ High confidence
  • 80% ➢ Medium confidence
  • 50% ➢ Low confidence

Với những Item có mức độ confidence cực thấp <50%, hãy giành thời gian để tìm thêm dữ liệu cho Item đó để tăng confidence hoặc đơn giản là để Item nguyên ở đó với Confidence Score = 0 để đánh giá ở các Phase sau khi chúng ta đã có đủ dữ liệu. Dữ liệu ở đây có thể là metrics sản phẩm đang có, quantitative data từ primary/secondary research, published papers, case study, expert advising, learnings from other products, etc.

Effort

Là tổng thời gian để hoàn thành Item theo dự kiến bao gồm nguồn lực từ nhiều team chức năng như Product, Marketing, Engineer, etc.

Effort có thể lấy đơn vị theo person-months (tổng số người cần cho N tháng) hay man-months (tổng thời gian làm việc cần cho N tháng).

Ví dụ:

  • Với Action Item “Tăng tỉ lệ users mua gói 1 Year Subscription để sử dụng app từ 5% lên 10% bằng cách bổ sung thanh toán qua VISA” cần: 1 Product Owner 0.5 tháng, 1 UI Designer 0.25 tháng, 1 Back-end 0.5 tháng, 1 Mobile Developer 0.5 tháng ➣ Total: 1.75 person-month

Khi nào có thể áp dụng RICE Scoring Model?

Đa phần với các giai đoạn hay mô hình phát triển sản phẩm như Agile, Waterfall hay Design Thinking ở các giai đoạn cần đánh giá Priority của các Item đều có thể áp dụng RICE Scoring Model.

Kinh nghiệm áp dụng RICE Scoring Model

Lý thuyết có thể dễ học, tuy nhiên việc áp dụng cho từng trường hợp sản phẩm, team, công ty luôn luôn đòi hỏi sự khéo léo của Product Manager.

Qua quá trình áp dụng trong các sản phẩm mà tôi từng làm việc, có một số kinh nghiệm sau:

  • Tìm cách chia sẻ kiến thức, case study trước khi khi áp dụng thực tế. Hoặc ít nhất hãy cho các stakeholders thời gian để tìm hiểu, đặt câu hỏi và nhận được dự đồng thuận của team.
  • Thống nhất phương pháp đánh giá các yếu tố Reach, Impact, Confidence, Effort.
  • Ưu tiên các stakeholders tham gia vào việc đánh giá RICE là những người có authority để make decisions. Điều này để đảm bảo thời gian planning không bị chia ra quá nhiều giai đoạn và phải giải thích, đàm phán lại Score khi đến mức cao hơn.
  • Đảm bảo số lượng stakeholders tham gia đánh giá RICE không quá nhiều và vừa đủ. Ví dụ: 1 leader/manager từ mỗi team Product, Marketing, Technical, etc.
  • Áp dụng RICE Score một cách mềm dẻo và các item cần được rà soát, điều chỉnh thường xuyên ở mỗi đợt review & planning như Sprint Planning/Bi-weekly Review/Quarterly Review & Planning, etc.
  • Với 4 yếu tố Reach, Impact, Confidence, Effort hoàn toàn có thể đi sâu hơn và có sự đánh giá chính xác hơn nhưng điều này cũng đồng nghĩa với sự phức tạp và thời gian tăng lên. Cho nên tuỳ trường hợp mà Product Manager cần quyết định phù hợp.

ICE Score

Trong những những hợp nguồn dữ liệu chưa sẵn có hoặc chưa đảm bảo độ tin cậy. Một biến thể của RICE Scoring là ICE Scoring thường được áp dụng, ở đây chúng ta loại bỏ Reach trong công thức tính.


RICE Scoring Model không phải là phương pháp đánh giá Priority tốt nhất và theo tôi không có phương pháp nào là tốt nhất. Có nhiều model để đánh giá Priority, mỗi phương pháp sẽ phù hợp cho từng trường hợp nhất định. Chúng ta nên biết và tuỳ trường hợp mà chọn lựa để áp dụng cho hiệu quả.

Xin liệt kê một số mô hình khác để bạn tìm hiểu thêm:

  • Cost of Delay (CoD)
  • Kano Model
  • MoSCoW (Must Have, Should Have, Could Have, Won’t Have)
  • Value vs. effort
  • WSJF (Weighted shortest job first)

Product Owner

Bài này tôi có vài đúc kết về công việc hàng ngày của Product Owner kinh nghiệm của tôi và các bạn bè trong ngành. Mục đích là nhằm cung cấp thêm góc nhìn cho các bạn quan tâm và cần tìm hiểu thêm về công việc này.

Cá nhân tôi tự thấy may mắn khi từng trải qua các công ty có tính chất và lĩnh vực khá đa dạng như Software Outsourcing (Gia công phần mềm), Nông nghiệp (Agritech), Quản lý nhân lực (HRM), Du lịch (TravelTech), Thương mại điện tử (E-Commerce), Giáo dục (EdTech), Game. Mặc dù chức danh có thể thay đổi nhưng vai trò và nhiệm vụ của một Product Owner (PO) vẫn chiếm khá nhiều thời gian trong những gì tôi làm.

Tôi sẽ chia các công việc theo tần suất: Hàng ngày (Daily), Hàng tuần (Weekly)/Mỗi hai tuần (Bi-Weekly), Hàng quý (Quarterly) để mọi người dễ hình dung.

Daily

Các đầu việc diễn ra hàng ngày của PO không khác nhiều so với các thành viên khác của Development team (nhóm phát triển).

  • Cập nhật tiến độ công việc hàng ngày với đồng đội: thường diễn ra vào buổi Daily Stand-up (buổi họp nhanh kéo dài tối đa 15 phút đầu ngày để mỗi người cập nhật: Hôm qua làm gì? Hôm nay làm gì? Vấn đề phát sinh cần được hỗ trợ)
  • Tham gia các cuộc họp đã lên lịch định kỳ hoặc không định kỳ với Development team, Stakeholders (Các bên liên quan có ảnh hưởng đến dự án), Users (Người dùng sản phẩm) hoặc Clients (Khách hàng).
  • Tham gia thảo luận các vấn đề liên quan đến công việc trên các ứng dụng chat nhóm như Slack/Discord/Skype.
  • Giải quyết các Ad-hoc Tasks (Các công việc đặc biệt, phát sinh không có kế hoạch nhưng quan trọng). Có thể là bổ sung trường hợp thiếu sót trong Product Requirement Document (Bản mô tả sản phẩm) để bạn Developer tiếp tục coding hay là cùng team điều tra nguyên nhân của một Bug (lỗi phần mềm ảnh hưởng đến việc sử dụng của người dùng) quan trọng.

Weekly/Bi-Weekly (theo Sprint)

Các team làm sản phẩm (không làm việc theo dự án kiểu Waterfall) thường áp dụng mô hình Scrum để chia công việc theo từng Sprint, mỗi Sprint sẽ kéo dài theo chu kỳ 1 hoặc 2 tuần và cứ thế lặp lại. Ưu điểm của mô hình này là có thể nhanh chóng phát hành sản phẩm đến tay người dùng (hoặc khách hàng) để nhanh chóng lấy đánh giá cho lần cải tiến tiếp theo.

Trong mỗi Sprint, PO sẽ thực hiện các công việc:

  • Lên mục tiêu và kế hoạch cho Sprint tiếp theo: Thường dưới dạng Sprint Objectives, Product Roadmap, Epic.
  • Chuẩn bị Product Backlog cho Sprint tiếp theo. Bao gồm: Đánh giá mức độ ưu tiên; tính khả thi của các Backlog Items (Vấn đề, Ý tưởng, Giải pháp, Yêu cầu).
  • Hoàn thiện các mô tả yêu cầu tính năng (Product Requirement Documents (PRDs) hoặc User Stories) đã lên kế hoạch. Ở bước này PO sẽ làm việc với User Experience Researcher (UXR) để lấy thêm insights từ người dùng (Pains, Gains, Needs,…), xác nhận các giả thiết (Hypothesis), hoặc tìm cách đánh giá các bản Prototype (bản thử nghiệm); làm việc với User Experience Designer (UXD) để thiết kế tính năng có trải nghiệm tốt nhất dưới dạng User Flow/Wireframe; nếu PO làm cả phần việc của UXD thì PO cũng sẽ làm việc với UI Designer để biến các bản Wireframe thành các thiết kế có bố cục, phân cấp, màu sắc,… có thể handoff cho Developer tiến hành coding giao diện. Và nhiều vị trí chuyên môn khác để đảm bảo tính năng được hoàn thiện yêu cầu trước khi chuyển sang Developer để tiến hành hiện thực hoá.
  • Ở bước trên, nếu chỉ gửi cho Developer file UI Design (ví dụ: Figma file, Sketch file) thôi thì chưa đủ. Có nhiều tính năng có User Flow và yêu cầu phức tạp, PO sẽ có buổi Backlog Grooming để giải thích về PRDs/User Stories cho Developers. Đảm bảo rằng các Developers hiểu rõ tại sao cần làm tính năng này, luồng đi của người dùng, các trường hợp xảy ra và cách xử lý mỗi trường hợp, các điều kiện,… giúp Developers đánh giá Feasibility, Constraint và Effort.
  • Theo dõi các chỉ số về sản phẩm: Thông qua các công cụ tracking (vd: Firebase Analysis, Appflyer, Amplitude,…) để đánh giá mức độ hiệu quả của các tính năng sau khi triển khai, phẩn hồi và xử lý các vấn đề quan trọng kịp thời.
  • Liên lục lấy phản hồi từ người dùng: Thông qua các buổi phỏng vấn, khảo sát hoặc phản hồi qua các kênh liên lạc (Contact Form, Email, Live chat, Bug Report, Social Media, Store Review,…) để có thêm thông tin cho việc đánh giá và cải tiến sản phẩm, giải quyết các vấn đề tiềm năng, nâng cao trải nghiệm người dùng.

Quarterly

  • Cùng với các cấp cao hơn (ví dụ: Product Manager, Business Owner, CEO) đánh giá lại các kết quả đạt được trong quý, về Objectives và Key Results đã đề ra, các Milestones đã hoàn thành. Đánh giá các điểm đã làm tốt, các điểm làm chưa tốt, những khó khăn để rút ra các bài học cho giai đoạn tiếp theo.
  • Làm việc với Product Manager/Business Owner, CEO, Stakeholders và Development team để đánh giá lại mục tiêu dài hạn, xác định mục tiêu ngắn hạn, nguồn lực, sản phẩm và nhiều thông tin khác để lên kế hoạch phát triển cho giai đoạn tiếp theo dưới dạng Objectives – Key Results – Action Plans hoặc Product Roadmaps.

Và rất nhiều công việc “không tên”

Trong nhóm phát triển sản phẩm, PO như một chất keo kết dính mọi người, tháo gỡ các khó khăn và đảm bảo rằng cả nhóm sẽ cùng đi đến được các mục tiêu đề ra (điều này không đồng nghĩa với việc PO là người quản lý nhóm phát triển). Chính vì vậy, sẽ có nhiều lúc PO đảm nhận nhiều công việc “không tên” hay kiệm nhiệm nhiều vai trò đồng thời.

Việc này có cái hại và cái lợi, đôi khi gây ra rất nhiều áp lực nhưng chính là cơ hội để PO xây dựng nền tảng theo T-Shape Skillset và phát triển lên các vị trí cao hơn như Product Manager.


Nhìn chung, công việc của PO ở các công ty khác nhau rất nhiều do phụ thuộc vào tính chất công ty, thị trường, tính chất sản phẩm, các đồng nghiệp và rất nhiều yếu tố khác. Khi ứng tuyển công việc có chức danh (Job title) là “Product Owner” hay các công việc có tính chất tương tự, điều cần làm là giành thời gian tìm hiểu thêm về công ty và quy trình làm việc ở đó; sản phẩm đang giải quyết vấn đề gì, cho ai và ở giai đoạn nào; các đồng đội tương lai họ là ai và có ưu nhược điểm gì; các đầu mục công việc cần làm; các bài toán cần giải quyết để có sự hình dung và chuẩn bị tốt nhất trước khi tham gia.

Foreign books

Hiếm ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của việc đọc sách. Tuy nhiên chỉ nguồn sách tiếng Việt là không đủ với nhu cầu cho công việc và lĩnh vực tôi đang làm việc. Cho nên tôi luôn xác định sách ngoại văn (Foreign books) là ưu tiên số 1.

Thời gian đầu, việc tìm sách ngoại văn của tôi khá khó khăn nhưng cũng dần tích lũy được ít kinh nghiệm. Qua bài viết này, tôi xin chia sẻ chút mẹo tìm sách.

Nguồn sách

Nhà sách Fahasa

Fahasa là nhà sách có số lượng sách ngoại văn phong phú và đa dạng, giá cả cũng rất phải chăng so với việc đặt sách từ nước ngoài qua các bên thứ ba. Ở Fahasa có một mục riêng cho sách ngoại văn là “FOREIGN BOOKS” và “Phiên chợ sách cũ“. Tôi đã mua được rất nhiều sách hay ở đây, giá cả cũng phải chẳng.

Có thể đặt hàng ngay trên Website hoặc App của Fahasa. Thời gian giao hàng trong vòng 1-2 ngày cũng rất tiện.

Một số nhà sách cũng bán sách ngoại văn như Tiki, Hải An, Cá Chép nhưng chưa phong phú như Fahasa.

Mua từ Amazon

Trong trường hợp cần mua sách giấy và không tìm được ở các nhà sách ở Việt Nam. Có thể tìm đến một số dịch vụ của các nhà sách online chuyên đặt hàng sách từ Amazon.

Điểm hạn chế của cách này là chi phí rất đắt, thời gian chờ cũng sẽ lâu hơn vì có thể mất đến 2 tuần hoặc 1 tháng. Giá sách thường rơi vào ~1 triệu trở lên/ cuốn.

Tìm kiếm Google

Sử dụng tính năng tìm kiếm nâng cao của Google đôi khi cũng giúp tìm được ebook của một vài cuốn sách tôi cần.

Gõ thêm cuốn sách muốn tìm kèm “type:pdf”. Các kết quả trả về có gán thẻ [pdf] (ví dụ ở hình dưới) sẽ dẫn đến file .pdf gốc có thể đọc và tải về.

Lưu ý:

  • Đa phần các bản chia sẻ này là file “lậu”.
  • Nhiều website lừa đảo tạo nội dung giả dụ người dùng click để kiếm tiền (ví dụ: xem quảng cáo) nhưng thật ra không có sách thật.

Đọc trên O’Reilly

O’reilly là một công ty phát hành sách lớn ở Mỹ.

O’reilly cung cấp gói dùng thử 10 days free trial ngày cho người dùng đăng ký mới mà không cần yêu cầu thẻ tín dụng, kiểm tra email không quá nghiêm ngặt (có thể dùng trang Temp-mail để tạo một email ảo), quá trình đăng ký nhanh chóng. Sau khi đăng ký thành công, có thể đọc hầu hết tất cả các đầu sách của O’reilly mà không tốn bất kỳ chi phí nào. Sau 10 khi hết hạn dùng thử có thể đăng ký để đọc tiếp.

Ví dụ cuốn INSPIRED (Marty Cagan) trên website của O’reilly.

Z-Library

Disclaimer: Tôi khuyến khích mua sách gốc nếu có điều kiện.

Đây là nguồn sách rất phong phú. Hầu như các sách có trên Amazon đều có thể tìm thấy ở đây. Ngoài sách, ở đây cũng có hầy hết các bài báo cáo, nghiên cứu từ các tạp chí khoa học lớn.

Hãy Google “z-library” để truy cập trang này.


Resumé

Resumé và CV

Đầu tiên cần hiểu rõ sự khác nhau giữa Resume và CV bởi vì ở Việt Nam chúng ta thường gọi tên chúng thay cho nhau. Khi apply vào các công ty lớn hoặc các công ty ở nước ngoài chúng ta cần hiểu rõ bản chất để sử dụng cho đúng ngữ cảnh.

CV (Sơ yếu lý lịch) là một bản tóm tắt về lịch sử và thành tích học tập và nghiệp vụ, trong hồ sơ xin việc. (Theo Wikipedia).

Resume (Hồ sơ ứng tuyển) là một tập văn bản tài liệu tóm tắt về bản thân, quá trình được giáo dục, đào tạo và liệt kê các kinh nghiệm làm việc dùng để xin việc làm (Theo Wikipedia).

Hãy viết CV khi muốn apply cho các công việc nghiên cứu, mang tính hàn lâm. Viết Resume để apply cho các công ty, tổ chức, công việc cụ thể. Trong bài này, tôi chỉ tập trung vào cách viết Resume khi làm hồ sơ xin việc.

Hình thức trình bày

  • Một Resume tốt cần trình bày trong giới hạn 1 trang giấy A4. Trường hợp kinh nghiệm làm việc trên 10 năm và có rất nhiều phải viết thì viết trong 2 trang
  • Sử dụng font family họ Serif cơ bản như: Time New Roman hoặc các font family tương tự như Palatino, Lora, Georgia
  • Chọn font size từ 10-12 pt. Đối với tên thì dùng font size là 20 pt
  • Canh lề từ 1.5-2.5 cm (0.5-1 inch)
  • Hạn chế lạm dụng màu sắc, font size, font style quá nhiều trong một Resume. Nên dùng màu đen/xám đậm
  • Tạo khoảng thở giữa các phần bằng khoảng trắng, đường kẻ hoặc chọn font size lớn hơn cho tiêu đề các đoạn/mục

Cách viết nội dung

Thông tin cơ bản

  • Viết tên in hoa và size chữ to kèm các thông tin liên hệ như: Địa chỉ, email, số điện thoại
  • Không nên thêm các thông tin quá cá nhân như: avatar, ngày sinh, giới tính, tình trạng hôn nhân, người giới thiệu

Kinh nghiệm làm việc

  • Chỉ nêu các kinh nghiệm làm việc liên quan hoặc sẽ bổ trợ cho vị trí ứng tuyển, không phải cứ đưa vào tất cả là tốt
  • Sử dụng các động từ chủ động để mô tả kỹ năng đã áp dụng hoặc đã học được (Xem thêm tại đây)
  • Sắp xếp công việc theo thứ tự thời gian từ mới nhất đến cũ nhất (hoặc ưu tiên các công việc liên quan trực tiếp đến vị trí sắp ứng tuyển)
  • Các công việc có kinh nghiệm dưới 6 tháng thì nên ghi năm thay vì tháng
  • Hãy viết mô tả công việc bằng các bullet point thay vì viết một đoạn văn dài
  • Sử dụng các con số thay vì những mô tả chung chung để làm nổi bật những đóng góp bạn đạt được
  • Không sử dụng động từ xưng hô như “Tôi” mà thay vào đó hãy bắt đầu bắt động từ
  • Viết rõ ràng, ngắn gọn, sử dụng các từ chuyên môn của ngành bạn đang ứng tuyển (có thể tham khảo trong các JD yêu cầu công việc)

Học vấn

  • Về điểm đại học, chỉ ghi vào GPA nếu GPA > 3.0/4.0 (7.5/10.0)
  • Chỉ ghi trường phổ thống nếu nó là những trường chuyên, được nhiều người biết đến hoặc có thành tích quốc gia, quốc tế nổi bật trong quá trình học
  • GPA chỉ quan trọng đối với các bạn mới ra trường hoặc đi làm dưới 2,3 năm. Vị trí đòi hỏi kinh nghiệm càng nhiều, nhà tuyển dụng càng ít quan tâm đến thông tin này
  • Đưa vào những khóa học có uy tín, liên quan đến vị trí muốn ứng tuyển. Những kỹ năng khác nên đưa vào phần kỹ năng

Kỹ năng

  • Ngoài các phần trên, hãy đưa vào các kỹ năng, sở thích cá nhân mà bạn nghĩ sẽ đóng góp tích cực đến vị trí muốn ứng tuyển. Ví dụ: Nếu biết chơi Piano thì apply vị trí Product Owner cho một công ty game về âm nhạc rất nên được đưa vào
  • Viết mô tả kỹ năng cực kỳ ngắn gọn, chỉ tối đa 2 dòng
  • Không đưa vào các kỹ năng cơ bản, ai cũng thành thạo hay là một chuẩn bắt buộc của ngành. Nó có làm hồ sơ của bạn bị loãng và dài dòng
  • Nếu bạn thành thạo một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ, hãy tự tin đưa vào nếu nó giúp ích cho công việc tương lai

Các lưu ý khác

Trung thực với những gì được viết ra

Nhà tuyển dụng sẽ không đủ thời gian để kiểm chứng tất cả những gì bạn đã viết trong Resume. Nhưng đến vòng phỏng vấn, họ sẽ dựa trên những ý nổi bật để bắt đầu đặt câu hỏi cho bạn. Nếu viết những điều không có thật hoặc sao chép ý một cách vô tội vạ thì ở bước này, không sớm thì muộn họ cũng sẽ nhận ra.

Resume tốt đầu tư thời gian, chất xám và cả tâm huyết

Tôi đã từng tham gia tuyển dụng nhiều bạn, làm việc để xây dựng các hệ thống tuyển dụng nên tôi tin rằng: Resume là thứ phản ảnh khá chính xác con người bạn trong mắt các nhà tuyển dụng. Nếu bạn là người cẩn thận, hồ sơ của bạn sẽ khó để có những lỗi ngớ ngẩn như sai chính tả xảy ra.

Resume tốt không thể viết trong vòng một tiếng hay một buổi. Một Resume tốt cần nhiều thời gian để suy nghĩ, chỉnh sửa và thậm chí cả quá trình dài để đầu tư.

Resume cho mỗi công việc, công ty khác nhau là khác nhau

Cùng một title công việc thì hai công ty khác nhau đã có sự khác biệt lớn. Đừng nên nhắm mắt rải cùng một Resume ở nhiều nơi. Tùy vào yêu cầu công việc ở các công ty, bạn cần có chiến lược hợp lý để đảm bảo hồ sơ luôn luôn là “Company Fit”.

Đi kèm Cover Letter cùng Resume

Khi đặt ra quyết tâm lớn và tiểu đủ sâu để hiểu rõ về công ty sắp ứng tuyển. Nên đầu tư thời gian để viết Cover Letter cho công ty đó. Giải thích ngắn gọn, Cover Letter sẽ giúp nhà tuyển dụng hiểu thêm về bạn ở mặt tính cách và đam mê, lý do tại sao bạn lại chọn công ty của họ thay vì các nơi khác. Resume giúp bạn qua vòng gửi xe, còn Cover Letter giúp bạn nổi bật giữa các con xe đã qua.

Yêu cầu của một số ngành đặc thù

Những lưu ý trên tôi tóm tắt những ý chung nhất. Một số công việc khác mà tôi đã từng làm có vài đặc điểm sau:

  • Các vị trí Graphic Design, UI/UX Design hay Product Design thì Resume cần thể hiện tố chất về thiết kế thông qua layout, màu sắc. Ngoài ra, hồ sơ ứng tuyển thường đi kèm Portfolio (showcase các project bạn đã làm trong quá khứ).
  • Các vị trí UX Design, UX Research cần đi kèm các Case Study của các project bạn đã làm.

Đúc kết,

Viết Resume giống như Marketing để chuẩn bị launching sản phẩm vậy. Sản phẩm tốt nhưng không bán được thì cũng là thất bại.

Nhưng để có sản phẩm tốt thì cần có một sự chuẩn bị kỹ càng và một sự nỗ lực trong quá trình làm việc. Resume cuối cùng cũng chỉ là 1 trang giấy để tổng kết 1 con người, không phải 1 trang giấy thần kỳ giúp thay đổi 1 con người.

Mong rằng những điều tôi chia sẻ có ích ở điểm nào đó với bạn. Hãy chia sẻ cho bạn bè nếu thấy bổ ích nhé!

Xem resume mẫu tại đây.


Tham khảo

  1. https://dolienquang.weebly.com/work/cach-viet-resume-chuyen-nghiep
  2. https://blog.tryexponent.com/pm-resume-checklist/

Mobile UI Pattern Library

Chắc hẳn các bạn làm sản phẩm hay UI Designer nói riêng thì các trang Mobbin, Ptrrns chắc không hề xa lạ. Trong quá trình thiết kế sản phẩm digital, việc tham khảo các ý tưởng và giải pháp thiết kế của các ứng dụng khác là điều bình thường và nên làm để hạn chế reinvent the wheel và giúp người dùng không phải học lại cái mới bằng việc sử dụng UI pattern quen thuộc.

UI Designer ngoài nắm vững các nguyên lý thiết kế, platform design guideline còn luôn cập nhật thường xuyên các xu hướng thiết kế cũng như UI Patterns để tiết kiệm thời gian và chủ động trong công việc.

Tôi luôn có ý định thu nhặt để tạo thành một kho thư viện nhỏ về các thiết kế cho các ứng dụng phổ biến ở thị trường Việt Nam vì các trang thư viện UI Pattern trên không có nhiều sản phẩm đang phổ biến ở thị trường Việt Nam hay là sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.

Để làm một website thì hiện tại sẽ mất thời gian và tôi chưa đủ nguồn lực để phát triển cho nên trước hết các ứng dụng trong quá trình khám phá, tôi sẽ gom góp lại và đưa vào Folder mà bạn có thể xem tại đây.

The Paradox of Choice

Barry Schwartz, nhà tâm lý học người Mỹ trong cuốn sách cùng tên đã phát biểu về Paradox of Choice như sau: “Khi càng có nhiều lựa chọn, con người càng trở nên bối rối và khó hài lòng hơn với lựa chọn của mình.” Việc hiểu và áp dụng nguyên tắc này sẽ giúp sản phẩm được thiết kế tốt và mang đến trải nghiệm tốt hơn.

Nghịch lý

Xã hội ngày càng phát triển, trải qua các cuộc cách mạng nhờ các phát minh, cuộc sống đầy đủ hơn trước. Đi liền với đó, chúng ta có vô vàn lựa chọn. Với Netflix, mọi người có thể xem phim mọi lúc, mọi nơi không giới hạn. Có Shopee, chỉ ngồi nhà cũng có thể mua sắm thỏa thích, khuyến mãi liên tục, giao hàng tận nơi. Chính những điều này khiến ta tưởng như cuộc sống sẽ trọn vẹn và giải phóng con người. Nhưng không hẳn!

Nghịch Lý Của Sự Lựa Chọn đã chỉ ra khi đối diện với quá nhiều sự lựa chọn, chúng ta có xu hướng trở nên căng thẳng về tâm lý hơn. Đến một ngưỡng nào đó, việc có quá nhiều lựa chọn sẽ xóa bỏ đi cảm giác vui sướng chúng ta có được khi chọn lựa.

Mối liên hệ giữa số lượng lựa chọn và mức độ hạnh phúc

Ở biểu đồ trên, chúng ta có thể thấy rằng từ không có lựa chọn nào đến có thêm lựa chọn sẽ khiến ta có cảm giác vui hơn. Nhưng khi các lựa chọn nhiều lên, lượng thông tin chúng ta cần tiếp nhận, phân tích và ra quyết định cộng thêm áp lực trong mỗi trường hợp sẽ tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực liêu suy nghĩ của chúng ta.

Hick’s Law chỉ ra: Thời gian để đưa ra quyết định tỷ lệ thuận với số lượng các lựa chọn. Nghĩa là càng nhiều lựa chọn, càng mất thời gian để quyết định.

Càng nhiều lựa chọn, càng khó có quyết định tốt

Chúng ta trải qua nhiều việc cần lựa chọn hàng ngày: Sáng ăn gì? Tối xem chương trình gì? Cuối tuần đi du lịch ở đâu?.. May thay, nhiều lựa chọn được chúng ta quyết định một cách tự động mà không cần phải suy nghĩ, có những lựa chọn đơn giản cũng làm ta không phải cân nhắc quá nhiều.

Nhưng đối với những vấn đề lớn hơn sẽ đòi hỏi chúng ta cần nhiều công sức. Các quyết định đưa ra cần nghiên cứu, tham khảo ý kiến, đắn đo cân nhắc. Một số các trường hợp nằm ngoài phạm vi hiểu biết của chúng ta. Nếu những quyết định trên lựa chọn không cần thẩn sẽ khiến ta trả một cái giá đắt.

Càng nhiều lựa chọn, càng khó hài lòng với quyết định

Một thí nhiệm đã được thực hiện như sau:

“Người ta chia những người tham gia thành hai nhóm. Nhóm I được thưởng thức 24 loại mứt. Nhóm II được thưởng thức chỉ 6 loại mứt. Những người ở nhóm I tỏ ra thích thú hơn nhóm II vì được thử nhiều loại mứt hơn. Tuy nhiên, khi được đề nghị mua thì chỉ 3% số người tham gia ở nhóm I đồng ý mua, con số này ở nhóm II là 30%”.

Khi mà người trong thí nghiệm này thu hẹp những lựa chọn xuống một loại mứt cụ thể, nét hấp dẫn phong phú của tất cả các loại mứt không được chọn sẽ thúc đẩy và làm loại mứt được chọn dường như kém đặc biệt hơn. Do đó, chi phí lựa chọn càng cao thì loại mứt được chọn càng trở nên kém hấp dẫn so với mong đợi. Như vậy càng có nhiều loại mứt thì loại được chọn càng có vẻ kém hấp dẫn hơn.

Giả dụ như bạn đang lựa chọn một kỳ nghỉ: Đi nghỉ dưỡng ở resort tại Vũng Tàu thì sao? Hay là bạn nên ở một căn homestay ở Đà Lạt?

Cho dù bạn chọn gì đi nữa, quyết định đó sẽ bỏ qua những cơ hội mà các lựa chọn khác mang lại. Cái này được gọi là chi phí cơ hội, và là một phần thiết yếu khi cân nhắc ra quyết định. Ví dụ như, chi phí cơ hội cho một kỳ nghỉ ở Vũng Tàu là khả năng được đến một homestay có view siêu đẹp ở Đà Lạt. Thật không may là những chi phí cơ hội này làm giảm mức độ hài lòng cho những lựa chọn mà cuối cùng ta quyết định.

Điều này được chứng minh một lần nữa bằng một nghiên cứu trong đó nhiều người được hỏi xem họ trả bao nhiêu để đặt các tạp chí nổi tiếng. Một vài người tham gia được cho xem nhiều tạp chí khác nhau trong khi những người khác xem những tạp chí tương tự nhau. Trong hầu hết các trường hợp, người được hỏi đánh giá thấp giá trị của tạp chí khi họ nhìn thấy bên cạnh những loại khác.

Lựa chọn theo thói quen làm giảm sự hài lòng

Con người chúng ta giống như các loài vật khác, hưởng ứng ít dần với một sự kiện bất kỳ khi sự kiện đó không thay đổi – đó đơn giản là vì chúng ta quen dần với sự việc. Quá trình này được biết đến như là thích nghi, và là một nét đặc trưng của tâm lý loài người.

Hãy nhớ lại lần đầu tiên bạn đến quán cafe yêu thích, cảm giác thật tuyệt đúng không? Cafe thật ngon, không gian thật đẹp và nhân viên thì tuyệt vời. Những lần sau đó thì sao? Bạn dần dần quen với những điều đó, những bất ngờ ngạc nhiên không còn nữa. Tiêu chuẩn của bạn được tăng lên, bạn thấy điều đó là bình thường và cảm giác thú vị sẽ ngày càng bớt đi.

Có một ví dụ nổi tiếng về sự thích nghi hưởng lạc, một nghiên cứu hỏi những người tham gia có vẻ may mắn hoặc bất hạnh đánh giá mức độ hạnh phúc của họ. Một vài trong số đó năm ngoái đã trúng số khoảng 50.000 đến 1 triệu đô la, trong khi những người khác bị tàn tật do tai nạn. Kết quả cho thấy những nười trúng số không hạnh phúc hơn người bình thường nói chung và các nạn nhân tai nạn vẫn đánh giá mình hạnh phúc (dù trong số đó vẫn có những người kém hạnh phúc hơn những người bình thường). Điều này chứng minh là con người có thể thích nghi với cả may mắn và bất hạnh.

Lưu ý khi thiết kế sản phẩm

Cung cấp thông tin rõ ràng

Thị trường nào cũng có nhiều cạnh tranh, sản phẩm bạn tạo ra sẽ không có người dùng nếu không ai biết bạn và không hiểu rõ về bạn. Vì vậy mới có sự tồn tại của Sale và Marketing.

Một Product Manager cần làm việc sâu sát với team Sale, team Marketing để thể hiện được hết giá trị, điểm nổi bật, lý do khách hàng phải sử dụng sản phẩm của bạn mà không phải của đối thủ. Hãy đảm bảo khi khách hàng cần tìm kiếm, họ dễ dàng tiếp cận được đầy đủ thông tin: bản demo/trial, tài liệu hướng dẫn, video, landing page,… Hãy đảm bảo khách hàng nhìn thấy được lý do để đưa ra quyết định chọn sản phẩm của bạn.

Landing page của User Testing ngoài các thông tin cơ bản, còn cho phép khách hàng xem Demo sản phẩm, yêu cầu dùng thử, xem video giới thiệu

Hạn chế lựa chọn

Một lỗi mình từng mắc phải là khi chưa chắc chắn được lựa chọn nào tối ưu là có xu hướng đưa ra tất cả các phương án có thể user tự lựa chọn “cho nhanh”. Giải pháp này có ưu điểm là tạo ra sự linh động cho nhiều tập user. Tuy nhiên, khi các lựa chọn này trở nên phức tạp như khi thiết kế filter nếu không có sự tính toán kỹ sẽ làm khách hàng bị ngợp. Không giúp khách hàng tìm kiếm được dễ hơn mà còn làm họ mất thời gian để hiểu và để tư duy.

Hình phía trên là màn hình Tìm kiếm và Bộ lọc của một ứng dụng đặt phòng. Ở màn hình bộ lọc có ~11 danh mục, trong mỗi mục có trung bình 6 tùy chọn, tổng cộng có khoảng 60 – 70 item.

Đây là một ứng dụng đặt phòng của nước ngoài. Tạm thời sẽ bỏ qua yếu tố vùng miền hóa đề xuất (người Việt Nam khi đi du lịch sẽ có thói quen và các đặc mối quan tâm khác với người nước ngoài) thì phần Filter chỉ hiển thị tối đa 3 item được quan tâm nhất ở mỗi danh mục. Các lựa chọn còn lại có thể nhấn xem tất cả để hiển thị hết. Để có thể biết được các nhu cầu nào là ưu tiên thì không nên đoán hoặc cảm tính mà nên làm User Research trừ khi bạn đã làm trong ngành quá lâu để đủ hiểu.

Trong các lựa chọn ở hai ứng dụng trên, hoàn toàn có thể lựa chọn trước cho người dùng các tùy chọn cơ bản cần đảm bảo khi đặt phòng như: sà phòng tắm, kem đánh răng, wifi. Khách hàng sẽ bớt thời gian thao tác và đắn đo suy nghĩ hơn.

Tự động hóa lựa chọn

Ở vài trường hợp, lựa chọn tự động hoặc đề xuất cho khách hàng nếu đã đủ thông tin là cần thiết. Việc này giúp khách hàng tiết kiệm thời gian rất nhiều và tạo trải nghiệm tốt. Bởi đơn giản, một trải nghiệm tốt là trải nghiệm mà khách hàng không cảm thấy có khó khăn.

Ở ứng dụng trên, sau khi chọn điểm đi và điểm đến, mã khuyến mãi tốt nhất tự động được áp dụng tự động cho cuốc xe khách đặt. Trong trường hợp này, có 13 mã KM. Tuy nhiên mỗi mã có giá trị, thời gian và chính sách sử dụng khác nhau. Nếu như lần lượt đọc thông tin từng mã, so sánh giá trị để chọn ra mã tốt nhất. Giả sử mỗi mã mất 20s, 13 mã mất 260s, cộng thêm 40s để thao tác sẽ mất 5 phút chỉ cho phần chọn mã KM.

Cho phép thử và thay đổi

Như đã nói ở trên, con người cảm thấy áp lực đối với các quyết định quan trọng. Khi dùng sản phẩm có thể là quyết định mua hoặc nâng cấp. Một cách làm phổ biến là cho phép khách hàng sử dụng thử trước khi quyết định mua.

Dropbox Business cho phép khách hàng dùng thử 30 ngày

Kết

Trong thiết kế sản phẩm, việc đưa cho khách hàng quá nhiều lựa chọn và bắt họ quyết định mà không tính toán kỹ sẽ tác động xấu đến trải nghiệm khách hàng. Cho nên, phương án chúng ta đưa ra cần đảm bảo:

  • Thông tin của mỗi lựa chọn cần rõ ràng, người dùng hiểu kết quả của mỗi lựa chọn.
  • Hạn chế việc đưa ra quá nhiều lựa chọn cùng lúc, con số lý tưởng là 3.
  • Cho phép người dùng thử và có thể thay đổi nếu cần thiết.

Hy rọng bài viết giúp ích cho bạn một phần nào đó. Hãy để lại bình luận nếu có bất kỳ ý kiến hoặc đóng góp nào nhé!


Silicon Valley

Khi nhắc đến Silicon Valley, có lẽ dân IT ở khắp nơi trên thế giới đều xem đây là thánh địa. Đây là điểm bắt đầu của các công ty công nghệ hàng đầu như Intel, Apple, Google, Facebook,… những cái tên đã nằm trong ngôi đền huyền thoại. Đây là nơi truyền cảm hứng cho không biết bao nhiêu con người, bao nhiêu thế hệ khởi nghiệp trong lĩnh vực phần mềm. Đây là nơi mà các con chiên công nghệ ai cũng ao ước ít nhất có một lần “hành hương” trở về.

Hôm nay, chúng ta cùng đi ngược dòng quá khứ để xem những điều gì đã giúp hình thành nên một Thung lũng Silicon truyền cảm hứng đến như vậy.


Thung lũng Silicon ra đời vào năm 1909 khi David Starr Jordan, Hiệu trưởng trường đại học Stanford, đầu tư tiền vào sáng chế ống chân không của Lee de Forest. Kể từ đó, Đại học Stanford tiếp tục khuyến khích các doanh nhân khởi nghiệp, sản sinh ra những của nhân như Bill Hewlett và David Packard, hai nhà đồng sáng lập của Hewlett-Parkard (HP) và Russell Varian, người đã phát triển công nghệ nền tảng cho radar kiêm sáng lập viên của Varian Associates. Sau Thế chiến thứ II, các cựu chiến binh từng phục vụ tại căn cứ quân sự địa phương đã quyết định gắn bó với khu vực này.

Khuôn viên đại học Standford. Ảnh từ Standford.edu

Nhiều người trong số họ đã đăng ký học tại Stanford khiến số lượng sinh viên tăng lên đáng kể, tạo áp lực lên tình hình tài chính của trường. Để gia tăng lợi nhuận biên tế (hay còn gọi là lãi gộp), nhà trường đã ra quyết định thành lập Khu công nghiệp Stanford, mảnh đất màu mỡ cho các công ty công nghệ non trẻ và ngày nay còn cung cấp không gian văn phòng cho các công ty khởi nghiệp và các công ty đang tăng trưởng thuộc Thung lũng này.

Nền tảng từ một nhóm các kỹ sư

Vào giữa những năm 1950, William Shockley, người phát minh ra bóng bán dẫn, đã chuyển đến khu vực này. Một số kỹ sư từng làm việc cho Shockey đã thành lập công ty Fairchild Semiconductor. Sau đó, hai trong số họ là Robert Noyce và Gordon Moore lập nên Intel. vào năm 1957, sau khi tàu vũ trụ Sputnik của Nga ra mắt, chính phủ Mỹ đã đổ rất nhiều tiền vào Fairchild để phát triển công nghệ mà sau này được sử dụng trong các chương trình vệ tinh và không gian của Mỹ.

Đội ngũ Fairchild Semiconductor thuở đầu. Ảnh từ American Scientist

ngành công nghiệp bán dẫn, Máy tính cá nhân và các công nghệ mới ra đời

Tiếng tăm ngày càng lan trộng của công cuộc đổi mới này đã thu hút các tài năng từ khắp nơi trên thế giới quy tụ về đây. Khi ngành công nghiệp bán dẫn đã tạo ra năng lượng điện toán với giá đủ thấp để cho phép những tay thợ hàn công nghệ thử nghiệm những công nghệ mới, thì ngành công nghiệp máy tính cá nhân ra đời.

Steve Jobs và Steve Wozniak bên máy tính Apple I năm 1976. Ảnh bởi Kimberly White / REUTERS

Apple và nhiều công ty máy tính khác được thành lập, kéo theo sự ra đời của nhiều công ty cung cấp các sản phẩm phần cứng phụ trợ và công nghệ hỗ trợ năng lực sản xuất. Với nguồn tài trợ của NASA thuộc Không quân Mỹ và ARPA, Viện Nghiên cứu Stanford đã phát minh ra chuột máy tính và công nghệ có tên là ARPANET – tiền thân của Internet. Xerox PARC đã tuyển dụng nhiều nhà nghiên cứu tiên phong về chuột máy tính và Internet. Sau này, họ còn phát triển cả lập trình định hướng đối tượng, giao diện đồ họa người dùng, mạng Ethernet, ngôn ngữ máy Postscript và máy in laze.

Những công ty này cùng các phát minh của họ đã góp phần lập nên 3Com và Adobe. Một vài công nghệ trong số này đã tạo điều kiện để những công ty như Cisco, Apple và Microsoft phát triển mạnh. Năm 1995, sau khi mạng Internet được mở rộng sang các hoạt động kinh doanh thương mại, rất nhiều công ty khởi nghiệp đã được thành lập, bao gồm cả eBay và Amazon. Dù Chính phủ Mỹ đã có công trong việc hình thành nên Thung lũng Silicon, nhưng trong kỷ nguyên Internet hiện nay, vai trò của họ đang ngày càng hạn chế.

nguồn vốn đầu tư mạo hiểm mới

Vốn đầu tư mạo hiểm là tác nhân thúc đẩy sự phát triển của Thung lũng Silicon ngay từ những ngày đầu hình thành. Cuối những năm 1970, thay đổi về quy định đầu tư hưu trí đã cho phép các nhà đầu tư mạo hiểm huy động nguồn vốn lớn hơn trước. Trước đây, phần lớn vốn đều được huy động từ những các nhân giàu có.

Đến cuối những năm 1990, các công ty Internet và công ty phần mềm phát triển như vũ bão – cho đến khi bong bóng dot-com vỡ tan và làm thay đổi cục diện vào hồi đầu năm 2000. Tiếp đến là làn sóng các công ty mới nổi chủ yếu trong lĩnh vực điện thoại di động, trò chơi điện tử, mạng xã hội và phần mềm dạng dịch vụ (Saas), bao gồm Zynga, Facebook, LinkedIn, Twitter và Salesforce.com. Gần đây là sự trỗi dậy của các công ty thành công trong nền kinh tế chia sẻ và lĩnh vực phân tích dữ liệu như AirBnB, Uber và Palanir Technologies.

Các công ty khởi nghiệp cung cấp thiết bị y tế và công nghệ sinh học cũng tăng trưởng mạnh mẽ tại Thung lũng Silicon. Genentech, công ty tiên phong trong ngành công nghiệp ADN tái tổ hợp do một nhà đầu tư mạo hiểm ở Thung lũng Silicon, đồng thời là nhà nghiên cứu của Đại học California tại San Francisco (UCSF) thành lập. Công nghệ của Genetech đã được phát triển ở Đại học Stanford và UCSF.

mở rộng và phát triển. trở thành cái nôi sáng tạo của thế giới

Ngày nay, Thung lũng Silicon đã mở rộng phạm vi địa lý, trải rộng khắp San Francisco, kéo tới hơn 64km về phía bắc và còn xa hơn nữa. Công nghệ ở đây cũng đa dạng hơn trước, từ phần cứng và phần mềm truyền thống đến công nghệ sạch, thiết bị y tết, công nghệ sinh học và các sản phẩm nông nghiệp. Nơi này vẫn không ngừng thúc đẩy tinh thần kinh doanh, sáng tạo khi liên tục tự đổi mới bản thân.

Ảnh screenshot Figma các văn phòng công ty tại Silicon Valley. Ảnh bởi Brianne Kimmel/Figma

nguồn gốc tên gọi “Thung lũng Silicon”

Vào năm 1972, Don Hoefler, một nhà báo chuyên mảng điện tử, đã nghĩ ra cụm từ này vì tất cả các công ty khởi nghiệp thời điểm đó đều tập trung vào thiết bị bán dẫn và sử dụng các bảng mạch silicon. Tên gọi đó vẫn được giữ nguyên cho tới tận ngày nay.

UX Hierarchy of Needs

Được giới thiệu bởi Lyndon Cerejo vào năm 2001. Dựa trên việc phân tích tháp nhu cầu Maslow khi tìm hiểu các yếu tố tạo nên trải nhiệm người dùng khi sử dụng sản phẩm.

HUXN bao gồm 5 tầng từ dưới lên: Site availibility, Usability, Supportive features, Confidence và Self actualization.

1. Site Availability:

Tầng này có vẻ hiển nhiên nhưng đừng vì vậy mà bỏ qua.

Chúng ta đều phát triển sản phẩm trong môi trường development, nghĩa là thiết bị, mạng, phiên bản phần mềm và mọi thứ đều là tối ưu. Không thể lường trước được khách hàng sử dụng app trong điều kiện nào cả.

Trong những ngày đầu làm dự án phần mềm KPI (khách hàng B2B), do thiếu kinh nghiệm mà mình đã quá tập trung vào nhóm end-user xài desktop (khi đó chiếm 90% tỉ lệ sử dụng). Tất cả design, dev và testing đều tập trung vào website mà quên đi nhóm end-user còn lại, những người công nhân làm việc ở công trường ít sử dụng laptop để làm việc. Chính vì vậy khi dùng app trên mobile thì hầu như không đánh giá được, rất nhiều người drop hoặc nhờ quản lý đánh giá KPI hộ.

Sau này, trước khi release tính năng mới ngoài test về logic, team còn phải test tính khả dụng của site như: tốc độ mạng, thiết bị, phiên bản trình duyệt,…

Để kiểm tra nhanh tốc độ xử lý đối với web app có thể sử dụng PageSpeedInsights của Google.

Plugin Responsive Viewer của Chrome để kiểm tra responsive trên các tỉ lệ màn hình

2. Usability Layer:

Ở tầng này, hãy đặt các câu hỏi:

– Người dùng có đi qua các màn hình một cách dễ dàng hay không?
– Các button, input field, tab,… có dễ nhấn không?
– Chữ đọc dễ hiểu và hiểu đúng không?
– Mental model có được xây dụng một cách thống nhất không?

Nếu bạn thấy khó khăn khi đặt các câu hỏi, tốt nhất hãy sử dụng các usability checklist. Ở công ty mình làm thường sử dụng 10 Usability Heuristics để lần lượt đi qua các vấn đề.

Một vài công ty thường sử dụng bộ checklist được xây dựng và tối ưu cho riêng tùy đặc thù sản phẩm. Ví dụ sau là checklist của team product Thế Giới Di động:

3. Supportive Features Layer (Tính năng hỗ trợ):

Ở tầng này, ngoài các tính năng cốt lõi. Hãy bắt đầu nghĩ đến các tính năng giúp tạo nên trải nghiệm người dùng tuyệt vời hơn, các tính năng khuyến khích người dùng tương tác nhiều hơn với sản phẩm.

Ví dụ:
– Sản phẩm mình từng làm luôn có một nút “Hỗ trợ” ở góc phải. Khách hàng gửi ticket về Zendesk cực kỳ nhiều, đây là channel chính mà công ty mình tiếp nhận vấn đề và hỗ trợ khách hàng.

– Ứng dụng nghe nhạc Spotify, ngoài việc hiển thị các bài hát trending, các bài hát do người dùng bookmark còn có các bài hát được đề xuất dựa trên lịch sử nghe nhạc của người dùng. Đã bao giờ bạn trầm trồ “Ồ! Sao mấy bài được đề xuất hợp gu mình đến thế!”

Các album đề xuất Spotify tạo cho mình, dựa trên các bài hát đã nghe

– Hay là khi mới cài Trulia (Ứng dụng tìm kiếm bất động sản ở Mỹ) có các mô tả rất chi tiết và trực quan tính năng của các button.

4. Confidence Layer:

Tầng này đối với các ứng dụng fintech, e-commerce, hỗ trợ thanh toán online hoặc đòi hỏi cung cấp thông tin người dùng,… đặc biệt quan trọng. Bởi ngày nay hễ lướt web là người dùng được yêu cầu đồng ý lưu Cookies, nhập tài khoản payment, xin SDT, email,… để thực hiện tác vụ A, B, C. Không ai có thể đảm bảo thông tin người dùng được bảo mật hoàn toàn và ngay cả các công ty với các chuyên gia bảo mật hàng đầu, hơn 2 tỷ user như Facebook vẫn bị rò rỉ thông tin như thường.

Vấn đề là liệu user có đủ tin tưởng để giành thời gian, cung cấp thông tin cá nhân hay là tiền bạc cho bạn cho dịch vụ bạn cung cấp không?

Mình từng quản lý một shop bán hàng online trên facebook, mặc dù đã cung cấp đầy đủ thông tin về shop cũng như hình ảnh nhưng khi mua hàng > 90% khách hàng vẫn chọn thanh toán CoD và yêu cầu được xem hàng trước. Sau đó để tăng lòng tin của khách hàng đối với shop, trong quá trình tư vấn tụi mình sẽ gửi kèm giấy kiểm định, feedback của các khách hàng trước và cam kết đền bù 150% chi phí nếu sản phẩm đã giao không đúng như cam kết.

5. Desirability Layer:

Hãy tạo ra những “aha moment” cho người dùng bằng những “wow factor”. Sản phẩm trước hết giải quyết các vấn đề của người dùng, sau đó tạo ra những khoảnh khắc “aha moment” sẽ lấy được cảm xúc của họ, giúp họ tiếp tục sản phẩm.

Giao diện trang tìm kiếm Google vào ngày sinh nhật của bạn

Desirability nằm ở tầng trên cùng bởi trước khi tạo nên những trải nghiệm thú vị mà người dùng khao khát được sử dụng, hãy tập trung giải quyết tốt các tầng ở dưới. Cần đảm bảo các tính năng đem đến trải nghiệm thú vị cho khách hàng không dẫn đến các vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến các yếu tố ở tầng dưới.

Ví dụ: Các website được giới thiệu trên trang Awwwards.com đa số đều có UI rất bắt mắt và Animation rất đẹp nhưng bởi vì sử dụng nhiều effect và thư viện Javascript nên tốc độ tải rất chậm và ngốn RAM.

Test hiệu suất của trang https://heycusp.com/

Từ góc độ tối ưu trải nghiệm người dùng, tốt hơn là sử dụng một drop-down menu đơn giản, trực quan còn hơn là tạo ra một drop-down menu đẹp, animation lung linh nhưng khó thao tác.


Tham khảo

https://www.slideshare.net/lycerejo/hierarchy-of-user-experience-needs
https://clutch.co/agencies/ui-ux/resources/three-user-experience-frameworks-better-websites-apps
https://xd.adobe.com/ideas/process/user-research/usability-vs-desirability-ux-design/